Hình sự

Việc mở rộng chế định miễn TNHS có dẫn đến việc tùy tiện trong xử lý tội phạm?

Câu hỏi: Việc mở rộng diện về loại tội phạm được miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quy định này ảnh hưởng đến việc xử lý rất nhiều tội phạm thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (do cố ý), dẫn đến việc tùy tiện trong xử lý tội phạm. Quan điểm của luật sư về vấn đề này?

Trả lời:

Theo tôi ý kiến nêu trên là hoàn toàn có cơ sở, bởi:

Hiện nay, có nhiều trường hợp, người phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý, như: Tội Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 173); tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 1 Điều 174); tộ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (khoản 1 Điều 175)..v.v. đã bồi thường, bồi hoàn đầy đủ các thiệt hại và được người bị hại đề nghị miễn TNHS nhưng không được các cơ quan pháp luật xem xét miễn TNHS (thực tiễn chưa miễn TNHS cho trường hợp nào thuộc loại này). Đây còn đang là khoảng trống mà gần như chưa được các cơ quan tố tụng xem xét đến để thực hiện việc miễn hay không miễn TNHS cho người phạm tội có đủ điều kiện quy định thuộc loại này.

Việc mở rộng diện về loại tội phạm được miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm. Tuy nhiên, quy định này ảnh hưởng đến việc xử lý rất nhiều tội phạm thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (do cố ý), dẫn đến việc tùy tiện trong xử lý tội phạm.

Quy định này cũng tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực trật tự giao thông đường bộ…với tâm lý “có tiền là có thể giải quyết được mọi chuyện” nên khi tham gia giao thông, người tham gia giao thông không tôn trọng các quy định về tham gia giao thông (người lái xe có nồng độ cồn cao, dùng ma túy lái xe, chạy lùi trên các tuyến đường cao tốc, lái xe bằng chân .v.v), hậu quả đến đâu thì đến, bồi thường là xong v.v. Do vậy, không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và hạn chế vai trò của pháp luật thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

Từ các quy định về miễn TNHS quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng, tôi có một số đề xuất, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện chế định này như sau:

– Cần quy định rõ tiêu chí chung về tính chất mức độ lỗi, hậu quả của tội phạm, nhân thân của người phạm tội và các yếu tố khác có liên quan.v.v. để làm cơ sở cho việc miễn TNHS quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, hạn chế việc “có thể” để tránh tùy tiện trong việc áp dụng và đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm.

– Quy định rõ việc miễn TNHS đối với loại tội phạm do vô ý có hậu quả chết người thì người đại diện hợp pháp của bị hại phải là quan hệ ruột thịt với người đã chết (vì người chết thì sẽ không gì bù đắp được cho họ) tự nguyện xin miễn TNHS mới đảm bảo “tính xác đáng” của việc xin miễn TNHS, tránh tùy tiện trong việc xin miễn TNHS của người đại diện hợp pháp mà không phải là ruột thị của họ.

– Nên quy định rõ hơn việc miễn TNHS đối với người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác (trường hợp này có thể là do vô ý hoặc cố ý); trong nhóm các loại tội phạm này có cả các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 BLHS năm 2015, khi bị hại rút yêu cầu thì vụ án được đình chỉ (Điều 155 BLTTHS năm 2015) nhưng việc đình chỉ do bị hại rút đơn yêu cầu thì lại không thuộc trường hợp đình chỉ miễn TNHS.

Author Since: Mar 15, 2019

Bài viết liên quan