Dân sự, Tư vấn pháp luật

Bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra.

Câu hỏi: Anh Phạm Văn Cường ở phường Hàng Kênh, quận Lê Chân hỏi: Chị tôi làm công nhân may tại công ty được 5 năm nay. Do thay đổi dây chuyền sản xuất nên công ty cho một số công nhân nghỉ việc mà không báo trước. Theo hợp đồng lao động đã ký với người lao động, phía công ty có cam kết nếu chấm dứt hợp đồng sẽ báo cho người lao động trước 6 tháng. Vậy nhưng khi chị tôi yêu cầu phía công ty bồi thường do tự ý chấm dứt hợp đồng nhưng phía công ty không đồng ý. Vậy, yêu cầu của chị tôi có đúng hay không? Chị tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 10 Điều 36 BLLĐ thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tuy nhiên, việc chấm dứt HĐLĐ này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Tại khoản 2 Điều 38 BLLĐ quy định về thời hạn báo trước như sau:

“2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

  1. a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  2. b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
  3. c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Căn cứ nội dung nêu trên, thì khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì phải có nghĩa vụ báo trước với người lao động.

Trong trường hợp này, phía công ty cho chị gái bạn nghỉ việc nhưng lại không thông báo cho chị bạn được biết là trái với điều khoản nêu trên. Vì vậy, đây là hành vi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Cho nên người sử dụng lao động phải có các nghĩa vụ sau:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

  1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
  3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Để được bồi thường đối với trường hợp này, chị gái bạn cần làm thủ tục hòa giải lao động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu hòa giải không thành thì có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.

 

Author Since: Mar 15, 2019

Bài viết liên quan