Tôi có một đứa con riêng, chúng tôi không đăng ký kết hôn nhưng tôi muốn nhận cháu. Cháu mới sinh tháng 5/2023. Vậy giờ tôi phải làm thế nào để cháu có thể nhập vào hộ khẩu của tôi để thuận tiện cho cháu sau này.
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 3 năm ago
- 0 comments
Việc giải quyết vấn đề nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được đã được quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật này.”
Điều 15 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:
“Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.”
Theo quy định của Luật HN và GĐ 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con thì Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Như vậy, mặc dù bạn không đăng ký kết hôn nhưng quyền và nghĩa vụ đối với con chung không có khác biệt với các trường hợp có đăng ký kết hôn và bạn hoàn toàn có quyền nhận con.
Tại Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ như sau:
“1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.
2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia”.
Theo Điều 24 Luật Hộ tịch năm 2014, đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam, “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con”.
Như vậy, trong trường hợp này anh Vũ Lê Minh cần thực hiện tục xác nhận cha, mẹ, con.
Về thủ tục xác nhận cha, mẹ, con được thực hiện như sau:
“1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc”.
Một lưu ý là khi nhận con, các bên cha và con phải có mặt tại UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận để thực hiện thủ tục này.
Hướng dẫn về chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
“1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con”. Sau khi hoàn thành thủ tục xác nhận cha, mẹ, con thì anh hoàn toàn có quyền đăng ký thường trú cho cháu về với gia đình của anh.

