Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại?
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 6 năm ago
- 0 comments
Câu hỏi: Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại?
Trả lời:
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Bộ luật này đã góp phần thúc đẩy và thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, tạo điều kiện để người dân tiếp cận công lý; hình thành tố tụng mang tính bình đẳng, minh bạch, trong đó mấu chốt là đảm bảo các tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng được thụ lý nhanh chóng và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Một số nét mới chính của BLTTDS 2015 liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại bao gồm:
- Xác định tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại của những cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh. Khác với quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 chưa rõ ràng, tại khoản 1 Điều 30 của BLTTDS 2015 đã quy định rõ hơn nhằm tránh việc nhầm lẫn giữa vụ việc thương mại với vụ việc dân sự. Thực tiễn trước đây, nhiều trường hợp một số vụ việc thuộc về thương mại thì được giải quyết thành vụ việc dân sự và ngược lại, một số vụ việc về dân sự thì lại áp dụng luật thương mại để giải quyết.
- Xác định việc kinh doanh thương mại
Việc thương mại là những trường hợp các bên không có tranh chấp mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ. Điều 31 của BLTTDS 2015 có một số điểm khác như sau:
– Quy định rõ quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên là việc kinh doanh thương mại. Trước đây BLTTDS 2004 không quy định rõ vấn đề này nên một số tòa án giải quyết theo cách thức của vụ án, một số tòa giải quyết theo cách thức của việc dân sự. Đây là vấn đề công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý, xác định tính hợp pháp của nghị quyết của Hội đồng thành viên hay Nghị quyết của Đại hội cổ đông phù hợp với quy định tại Điều 63 của Luật Doanh nghiệp 2014 về yêu cầu hủy quyết định của hội đồng thành viên và Điều 87 Luật Doanh nghiệp về hủy quyết định của Đại hội cổ đông của Công ty cổ phần. Trong thực tế, HĐTP TANDTC đã xét xử giám đốc một việc kinh doanh thương mại mà tòa án hai cấp trước đây giải quyết sai và xem đó là vụ án kinh doanh thương mại;
– BLTTDS 2015 bổ sung thêm tại chương XXXII và chương XXXIV quy định việc bắt giữ tàu bay và tàu biển là việc kinh doanh thương mại. Quy định này đã được đưa ra tại Pháp lệnh bắt giữ tàu biển 2008 và Pháp lệnh bắt giữ tàu bay 2010. Việc bổ sung quy định này tại BLTTDS 2015 nhằm tương thích với các pháp lệnh nói trên;
– BLTTDS 2015 bổ sung thêm quy định các yêu cầu khác về kinh doanh thương mại cũng thuộc thẩm quyền của Tòa án. Yêu cầu khác này là đối với những trường hợp mà pháp luật chưa qui định thì tất cả những việc thương mại mà pháp luật không quy định sẽ được áp dụng quy định này.
- Xác định tranh chấp kinh doanh thương mại và thẩm quyền giải quyết trong trường hợp luật không quy định
Các điều 43, 44 và 45 BLTTDS 2015 quy định về trường hợp giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại mà không có luật định. Nếu không có luật định thì phải xác định nó là vụ việc thương mại thì mới thụ lý để giải quyết theo thủ tục kinh doanh thương mại được; nếu không phải là vụ việc thương mại thì sẽ không thụ lý. Để được xác định là quan hệ thương mại, thứ nhất, quan hệ đó phải mang tính chất bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Thứ hai, chủ thể của nó phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh.
Khi không có luật định, Tòa án cũng phải xác định thẩm quyền theo lãnh thổ, ví dụ TAND cấp tỉnh thụ lý thì phải dựa trên cơ sở Điều 35 BLTTDS trong đó quy định rằng TAND cấp huyện chỉ được thụ lý giải quyết tranh chấp hoạt động thương mại, còn các loại tranh chấp khác liên quan đến thương mại như tranh chấp trong nội bộ công ty hoặc tranh chấp trong trường hợp không có luật định hay tranh chấp sở hữu trí tuệ… phải thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.
Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ còn phải căn cứ vào Điều 39 và 40 của BLTTDS, đó là xác định theo nơi cư trú của bị đơn. Tòa án nơi cư trú của bị đơn hoặc trong trường hợp có chi nhánh thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi có trụ sở chính của công ty. Trong trường hợp pháp luật không quy định, BLTTDS 2015 quy định rằng việc giải quyết sẽ trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Nếu các bên không có thỏa thuận gì thì giải quyết theo tập quán; không có tập quán thì giải quyết theo quy tắc tương tự pháp luật; và nếu không có quy tắc tương tự thì giải quyết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của BLDS, án lệ và lẽ công bằng. Tức là việc giải quyết phải theo thứ tự ưu tiên áp dụng.
- Vấn đề kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
Khi thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và triển khai quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu cũ hết quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Đối với công ty TNHH một thành viên, doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, khi có sự thay đổi chủ sở hữu và đã có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ tố tụng cho chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu mới sẽ kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng này. Đây là quy định xác định quyền và nghĩa vụ tố tụng trong hoạt động tố tụng. Việc tổ chức chuyển giao quyền và nghĩa vụ tố tụng phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
BLDS 2015 không còn xác định tổ hợp tác là một chủ thể trong quan hệ dân sự nữa. Chính vì vậy, đối với những tổ chức không có tư cách pháp nhân, nếu người đại diện của họ không xác định được và họ không cử được người đại diện hoặc tổ chức đó đã chấm dứt hoạt động, giải thể thì trách nhiệm rõ ràng thuộc về tất cả các thành viên. Tất cả các thành viên đều phải tham gia tố tụng với tư cách là kế thừa quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó. Quy định như vậy để áp dụng đối với những tổ chức không có tư cách pháp nhân khi họ tham gia tố tụng.
- Về đại diện của đương sự
BLDS 2015 quy định tại Điều 134 về người đại diện có thể là pháp nhân hoặc cá nhân. Trước đây, theo Điều 139 BLDS 2005 thì người đại diện là người cụ thể cho nên chúng ta hiểu đó là các cá nhân. Đến BLDS 2015 quy định mới rằng đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân và BLTTDS cũng quy định tương ứng rằng người đại diện theo ủy quyền có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Một pháp nhân có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác.
- Vấn đề thụ lý đơn và khởi kiện
Điều 190 và 191 BLTTDS 2015 quy định việc nộp đơn đơn giản hơn so với BLTTDS 2004: (i) trực tiếp nộp đơn; hoặc (ii) nộp qua đường bưu chính; hoặc (iii) nộp trực tiếp qua Cổng thông tin điện tử. Nếu chủ thể đó có đăng ký giao dịch điện tử thì có thể chỉ cần nộp đơn qua cổng thông tin điện tử là Tòa án đã thụ lý đơn mà không cần phải đến tòa. Việc quy định mới về các hình thức nộp đơn sẽ góp phần thụ lý kịp thời để giải quyết tranh chấp.
- Xác định địa chỉ của bị đơn
Trong nhiều trường hợp chủ thể sau khi xác lập quan hệ thương mại đã thay đổi nơi cư trú và người khởi kiện không tìm được nơi cư trú mới và khi đó Tòa sẽ trả lại đơn khởi kiện theo BLTTDS 2004. Để khắc phục vấn đề này, BLTTDS 2015 quy định: Tòa án không trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện ghi đúng địa chỉ trong giao dịch hợp đồng. Việc này phù hợp với Điều 40 của BLDS trong đó quy định rằng khi thay đổi nơi cư trú thì người có nghĩa vụ phải thông báo cho người có quyền biết. Ví dụ, lúc giao dịch hợp đồng người có nghĩa vụ địa chỉ A nhưng sau khi ký kết họ đi nơi khác mà không thông báo cho người có quyền biết thì người có quyền vẫn có thể khởi kiện và Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện. Đối với trường hợp người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các tổ chức, Điều 79 BLDS 2015 quy định pháp nhân có thay đổi về trụ sở phải thông báo công khai. Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014 cũngquy định là khi thay đổi nội dung đăng ký thì phải đăng ký lại, cho nên trong trường hợp các pháp nhân kinh tế thay đổi trụ sở nhưng không thông báo công khai thì xem như họ cố tình giấu địa chỉ. Trường hợp này Tòa vẫn nhận đơn và thụ lý.
- Về việc dân sự
Có hai loại việc dân sự mới được bổ sung: (i) Điều 414 và 415 bổ sung thêm quy định về đăng ký phán quyết của trọng tài vụ việc. Theo Luật Trọng tài thương mại 2010, Điều 62, đối với phán quyết trọng tài vụ việc, theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp thì phán quyết trọng tài được đăng ký trước khi yêu cầu Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành phán quyết trọng tài. Quy định này là để tương thích với Luật Trọng tài thương mại 2010. Trình tự, thủ tục đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc này được thực hiện theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010; (ii) chương XXXIV của BLTTDS có 3 điều luật là 420, 421 và 422 quy định về thủ tục bắt giữ tàu bay và tàu biển để đảm bảo lợi ích của các bên trong tranh chấp về hàng hải, hay đảm bảo yêu cầu thi hành án, hay thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến tàu bay và tàu biển. Thủ tục bắt giữ tàu bay và tàu biển sẽ thực hiện theo Pháp lệnh bắt giữ tàu bay và Pháp lệnh bắt giữ tàu biển.

