Còn có vướng mắc, bất cập gì trong thực hiện quy định của pháp luật về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích cá nhân, tổ chức hay không?
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 2 năm ago
- 0 comments
Là một tội phạm tuy không xảy ra thường xuyên và bị xử lý hình sự quá nhiều như các tội xâm phạm sức khỏe hay tính mạng trong Bộ luật Hình sự và khi xử lý cũng tương đối triệt để, đúng luật, đúng người, đúng tội nhưng tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quan điểm của tôi thì vẫn còn tồn tại những bất cập về pháp lý, cụ thể là:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 thì có thể thấy tội phạm này là tội phạm có cấu thành hình thức, tức là tội phạm cấu thành mà không cần dấu hiệu hậu quả. Chỉ cần thực hiện hành vi xâm phạm đến các lợi ích, quyền của Nhà nước hoặc công dân là sẽ cấu thành tội phạm. Vấn đề đặt ra là xâm phạm đến mức độ nào sẽ phạm tội này, tức là bị xử lý hình sự? Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP quy định “lợi ích phi vật chất” tại điểm b khoản 1 các Điều 354, 358, 364, 365 và 366 của Bộ luật Hình sự là những lợi ích không phải lợi ích vật chất. Ví dụ: hối lộ bằng cách tặng thưởng, đề xuất tặng thưởng các danh hiệu, giải thưởng; bấu, cử, bổ nhiệm chức vụ; nâng điểm thi; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài; hối lộ tình dục… Trong tội phạm tại Điều 331 cũng có quy định lợi ích nhưng lại không được hướng dẫn.
Quy định này đã không có hướng dẫn cụ thể và rõ ràng về cả lý luận cũng như thực tiễn. Việc xác định cái gọi là “xâm phạm lợi ích” chỉ dừng lại ở mức định tính chứ chưa định lượng. Tức là nếu xem “xâm phạm lợi ích” là hành vi thì tội phạm này không cần thấy dấu hiệu hậu quả cụ thể ra sao, chỉ cần trên thực tế thực hiện hành vi xâm hại đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là đã có thể cấu thành tội phạm, điều đó có nghĩa là việc xác định cấu thành tội phạm này rất “định tính”, dường như nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủ quan có, khách quan có, rõ ràng có, mập mờ có của các cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ hai, nếu hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân thì về mặt cấu thành tội phạm, các dấu hiệu pháp lý của tội này dễ bị nhầm lẫn với tội tội “Làm nhục người khác” tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015. Hai tội phạm này chỉ khác nhau ở chỗ tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tác động đến các đối tượng Nhà nước, tổ chức, cá nhân còn tội làm nhục người khác chỉ tác động đến chủ thể là cá nhân khác. Hành vi của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân còn tội làm nhục người khác thì xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Thứ ba, về kĩ thuật lập pháp, nội dung điều luật tội phạm này tại Điều 331 là chưa hợp lý. Theo luật hiện hành thì về mặt cấu thành tội phạm, tội phạm này dường như có cấu thành hình thức nghĩa là cấu thành tội phạm mà có các dấu hiệu phạm tội bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm có cấu thành hình thức là loại tội phạm có giai đoạn phạm tội chưa đạt. Bất kì ai thực hiện hành vi được mô tả như trong quy định của khoản 1 Điều 331 thì sẽ cấu thành tội phạm này nếu đáp ứng điều kiện chủ thể. Điều luật này nên bổ sung thêm dấu hiệu hậu quả sẽ hợp lý hơn vì tính chất của loại tội phạm này không đến mức quá nguy hiểm đến nỗi chỉ cần thực hiện hành vi được mô tả trong điều luật là có thể phạm tội này.
Nếu quy định tội phạm này có thêm dấu hiệu hậu quả thì về mặt lý luận, xem như tội phạm này có cấu thành tội phạm vật, là cấu thành tội phạm mà có các dấu hiệu phạm tội bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm, cụ thể: hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi đó gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra.

