Tôi có mảnh đất 398m2 đất, sổ đỏ ghi đất thổ cư lâu dài, nay tôi muốn chuyển 100m2 đất cho em tôi làm nhà ở. Tôi ra phường làm đơn tách sổ đỏ thì cán bộ địa chính báo phải nộp 50% thuế theo giá đất năm 2023. Vậy trường hợp nhà tôi cán bộ địa chính trả lời như vậy là đúng hay sai?
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 3 năm ago
- 0 comments
Theo thông tin bác cung cấp thì hiện nay gia đình bác có diện tích 398m2 đất, sổ đỏ ghi đất thổ cư lâu dài, đến nay bác bác có mong muốn cho em ruột diện tích 100m2 đất thổ cư lâu dài để làm nhà ở. Tuy nhiên, theo thông tin bác cung cấp chưa thể hiện rõ toàn bộ diện tích 398m2 đất của gia đình là đất ở hay trong đó có cả đất ở và đất vườn, hoặc việc tặng cho 100m2 đất là đất ở hay đất vườn liền kề. Vì vậy, chúng tôi xin được tư vấn cho bác như sau:
- Trường hợp Tặng cho diện tích 100m2 là đất ở.
Trong trường hợp này, thì cán bộ địa chính yêu cầu gia đình bác phải nộp 50% thuế theo giá đất năm 2023 (10 triệu đồng/m2) là không đúng, bởi:
Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp thực hiện việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối .
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để ở mà tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức công nhận đất ở theo giá đất quy định tại bảng giá đất:
– Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ.
– Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng.
– Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác.
– Lấn, chiếm đất đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp.
– Lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép mà chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Ví dụ: Ông A lấn chiếm lề đường từ năm 1990 và sử dụng để xây nhà ở từ đó đến nay. Năm 2020, ông A được cấp Giấy chứng nhận; theo bảng giá đất thì thửa đất ông A có giá 05 triệu đồng/m2 nhưng ông A chỉ phải nộp 50% tiền sử dụng đất (2.5 triệu đồng/m2).
2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (xem cụ thể hành vi tại trường hợp 1), nếu được cấp Giấy chứng nhận thì thu tiền sử dụng đất như sau:
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở thì phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại bảng giá đất.
– Trường hợp sử dụng đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở, nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng lâu dài thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo giá đất cụ thể.
3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004
* Thế nào là đất giao không đúng thẩm quyền?
Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, giao đất không đúng thẩm quyền gồm các trường hợp sau:
– Người đứng đầu điểm dân cư giao đất hoặc UBND xã, phường, thị trấn giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ.
– Tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng nhưng đã tự phân phối, bố trí cho cán bộ, công nhân viên, xã viên để sử dụng làm nhà ở và các mục đích khác.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên thì trường hợp của bác Nguyễn Văn Cương khi thực việc tách một phần diện tích đất khi đã có Giấy chứng nhận QSDĐ thì không phải nộp 50% tiền sử dụng đất. Trong trường hợp này, gia đình bác cần thực hiện thủ tục tách một phần thửa đất, sau đó thực hiện việc tặng cho QSDĐ.
2. Trường hợp tặng cho 100m2 là đất vườn liền kề với đất ở.
Theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp này gia đình bác cần thực hiện việc chuyển nhượng 100m2 diện tích đất này cho người em ruột của bác. Sau đó, để được xây dựng nhà ở, người em ruột này cần thực việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở.
Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, khi chuyển từ đất vườn sang đất ở có thể xảy ra 02 trường hợp và tiền sử dụng đất ở mỗi trường hợp là khác nhau.
Trường hợp 1: Chuyển từ đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp sau:
– Chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai 2013 sang làm đất ở;
– Chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền nhà ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính từ trước ngày 01/7/2004 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở.
Để dễ hiểu hơn, chúng tôi xin được khái quát thành công thức tính tiền sử dụng đất như sau:
Tiền sử dụng đất phải nộp = 50% x (Tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở – Tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp)
Trường hợp 2: Chuyển từ đất nông nghiệp sang đất ở
Nếu đất vườn là đất trồng cây hàng năm hoặc cây lâu năm thì tiền sử dụng đất được tính theo điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP.
Khi hộ gia đình, cá nhân chuyển đất nông nghiệp được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất ở thì số tiền phải nộp xác định như sau:
Tiền sử dụng đất phải nộp = Tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở – Tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp
Mặc dù có cách tính như trên nhưng để tính được số tiền sử dụng đất thì người dân phải biết giá đất theo Bảng giá đất, địa chỉ thửa đất, vị trí thửa đất.
Kết luận: Khi thực hiện thủ tục chuyển đất vườn sang đất ở thì hộ gia đình, cá nhân phải chú ý những nội dung sau:
– Phải chuẩn bị hồ sơ đầy đủ.
– Nộp đúng số tiền và đúng thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan thuế.
– Khi quá thời gian mà chưa nhận được kết quả thì nên hỏi trực tiếp lý do chưa giải quyết, trường hợp cần thiết thì yêu cầu cơ quan giải quyết trả lời bằng văn bản (đây là căn cứ để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện hành chính).
Như vậy, nếu trường hợp của bác thuộc trường hợp 1(Chuyển từ đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở) nêu trên thì việc cán bộ địa chính tư vấn cho bác là đúng luật định.

