Người phụ nữ đang được bảo vệ như thế nào khi ly hôn?
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 2 năm ago
- 0 comments
Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đã ghi nhận một số quyền của người phụ nữ sẽ được bảo vệ khi ly hôn, cụ thể như sau:
*Về quyền yêu cầu ly hôn
Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta đảm bảo quyền tự do ly hôn, Việc ly hôn ảnh hưởng đến lợi ích của các bên. Trên thực tế, khi ly hôn thì người phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn, do đó để bảo vệ quyền của phụ nữ trong hôn nhân thì pháp luật hôn nhân và gia đình đã có những quy định về vấn đề ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn của người phụ nữ được ghi nhận qua Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, người vợ có quyền được yêu cầu ly hôn trong cả hai trường hợp: Thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên vợ yêu cầu.
Việc ly hôn do một bên vợ yêu cầu được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng, Tòa án phải tiến hành xác định tình trạng quan hệ hôn nhân và áp dụng các căn cứ để giải quyết, cụ thể:
– Trường hợp có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình. Hanh vi bạo lực gia đình đa số do người chồng thực hiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm rạn nứt quan hệ trình cảm trong thời kỳ hôn nhân.
– Trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân của vợ, chồng là do cả hai xây dựng, vun đắp, nhưng khi một bên không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình đối với người còn lại thì quan hệ hôn nhân sẽ đổ vỡ. Hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết việc ly hôn.
Khi có một trong những căn cứ trên dẫn đến quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng (người chống không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc người vợ,…), đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định giải quyết ly hôn. Như vậy, các quy định của luật đã bảo vệ được người phụ nữ, giải thoát cho họ trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hai trường hợp trên là công nhận và bảo đảm quyền tự do ly hôn chính đáng của người vợ mà không phụ thuộc vào ý chí của người chồng hay của người khác đảm bảo được quyền bình đẳng của người vợ trong việc thực hiện quyền ly hôn.
Thứ hai, quy định về trường hợp cha mẹ, người thân thích khác trong gia đình có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, cụ thể cha, mẹ người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên chồng, vợ do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời người chồng có hành vi bạo lực gia đình đối với người vợ. Đây là quy định tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có ý nghĩa thiết thực bảo vệ quyền của người phụ nữ, là nhóm yếu thế, phần lớn là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình thì việc quy định cho cha, mẹ, người thân thích khác trong gia đình có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là hợp lý.
Thứ ba, quy định hạn chế về quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng, cụ thể người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Với quy định này, quyền làm mẹ của người vợ được bảo đảm một cách vững chắc hơn. Ghi nhận quy định này chính xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện cho người phụ nữ thực hiện tốt thiên chức của mình.
* Về quyền nuôi con
Theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì Người phụ nữ được pháp luật bảo vệ như sau:
Thứ nhất, về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:
– Người phụ nữ Có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi phát triển mọi mặt của đứa trẻ, nếu như đứa trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người con.
– Sau khi ly hôn, người phụ nữ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật
– Đối với con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp chăm nuôi, chưa trường hợp xét thấy người mẹ không đủ điều kiện để có thể chăm sóc và giáo dục con cái hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Như vậy có thể nói, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay ưu tiên quyền nuôi con trước tiên thuộc về người phụ nữ trong trường hợp ly hôn để đảm bảo thiên chức làm mẹ và trong giai đoạn nhạy cảm của cuộc đời.
Thứ hai, quyền được thăm con sau khi ly hôn. Theo quy định pháp luật, sau khi ly hôn, những người không trực tiếp nuôi con sẽ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con cái mà không bị ai cản trở dưới bất kỳ hình thức nào.
Thứ ba, quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Sau khi ly hôn, trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc tổ chức về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu xét thấy có đầy đủ căn cứ thì tòa án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
*Về chia tài sản khi ly hôn
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã có những quy định tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự, đặc biệt là người phụ nữ, bởi vì khi ly hôn họ là đối tượng có phần gặp nhiều khó khăn hơn. Theo nguyên tắc chung, tài sản của vợ chồng được chia đôi cho hai người, trên cơ sở của nguyên tắc vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc hưởng các quyền dân sự nói chung và quyền sở hữu tài sản nói riêng, trong trường hợp không có thỏa thuận phân chia tài sản, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chống được chia theo nguyên tắc chia đôi. Quy định này là hoàn toàn hợp lý vì hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản này.
Tuy nhiên, để đảm bảo việc phân chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện công bằng, phù hợp với thực tế, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hướng dẫn tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tích 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia.
– Hoàn cảnh gia đình của các bên. Theo đó, nếu khi ly hôn mà người vợ khó khăn thì Tòa án xem xét chia phần tài sản nhiều hơn do với bên kia hoặc được ưu tuên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực té của gia đình và của vợ.
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung được hiểu là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trường hợp người phụ nữ không ra ngoài làm việc mà chỉ ở nhà nội trợ, chăm sóc con cái tuy không trực tiếp tạo ra thu nhập do đó cần xem xét tới công sức đóng góp của người vợ, điều này khẳng định sự bình đẳng giữa vợ và chồng.
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ, chồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn. Cần lưu ý, lỗi ở đây có thể là không chăm lo làm ăn, cố tình tẩu tán tài sản, cờ bạc, rượu chè, có hành vi ngoại tình, bạo lực gia điình mà các lỗi này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ly hôn. Quy định này thể hiện công bằng hơn trong việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ khi ly hôn. Bên cạnh đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng, pháp luật Việt Nam đặt ra yêu cầu bảo vẹ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đây là quy định thể hiện rõ nét nhất việc bảo vệ quyền của phụ nữ.
Thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người bợ trong quan hệ giao dịch với người thứ ba. Theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp sống chung với gia đình. Truyền thống ở Việt Nam, phụ nữ sau khi kết hôn thường sống chung trong gia đình nhà chồng, quy định này nhằm đảm bảo dù sống chung nhưng vẫn phải xác định tài sản phân chia cho người vợ dựa trên công sức đóng góp, tạo lập khối tài sản đó.
Thứ tư, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào sản xuất kinh doanh. Quy định này tạo ra sự bình đẳng cho vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền lợi cho các bên, người đang trực tiếp kinh doanh bằng tài sản chung thì ưu tiên nhận tài sản đó để tiếp tục duy trì hoạt động nhưng phải có trách nhiệm thanh toán cho bên còn lại giá trị tài sản tương ứng được nhân.
Thứ năm, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong việc phân chia quyền sử dụng đất. Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì không phân biệt là do vợ hay do người chồng tạo lập ra, khi ly hôn vợ chồng đều được hưởng phần bằng nhau giá trị quyền sử dụng đất. Quy định này bảo vệ quyền sử dụng đất của người vợ trong trường hợp khi ly hôn người chồng tự ý thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung này.

