Hỏi đáp, Tư vấn pháp luật

Anh Nguyễn Hùng Nam, quận Hải An hỏi: Em có nhặt được 1 thẻ ATM và 1 số giấy tờ photo. em tò mò vào trạm ATM thử xem và có rút được trong thẻ 400 nghìn đồng. Sau khi em rút được số tiền nên e đã vức cái thẻ đi. Khi về nhà thấy việc làm của mình là sai, em đã đến ngân hàng nộp lại tiền vào tài khoản. Em đã làm nói chuyện với chủ thẻ và người ta nói em là cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác. Cho em hỏi trường hợp này em có vi phạm pháp luật không ? Em phải làm như thế nào khi người chủ thẻ kiện, thưa luật sư?

Thẻ ATM là tài sản của ngân hàng và thường được ghi rõ ở mặt sau của thẻ kèm theo nội dung đề nghị nếu ai nhặt được thì vui lòng trả lại ngân hàng phát hành. Do vậy, khi nhặt được thẻ ATM, người nhặt được cần phải trả lại thẻ cho ngân hàng phát hành, không được tự ý sử dụng để rút tiền của chủ thể.

Theo đó, người nhặt được tài sản của người khác nhưng không trả lại cho người đánh mất mà cố tình giữ lấy là có dấu hiệu của hành vi chiếm giữ trái phép tài sản và tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý hình sự.

Thứ nhất: Xử phạt vi phạm hành chính

Tại điểm đ khoản 2 điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác bị phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt 3 triệu đến 5 triệu đồng. 

Thứ hai: Truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định của pháp luật thì người nào cố tình không trả lại hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, nhặt được trị giá từ 10 triệu đến dưới 200 triệu đồng sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản thì có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm theo điều 176 Bộ luật Hình sự  về tội chiếm giữ trái phép tài sản.

Ngoài ra, người tự ý rút tiền trong thẻ ATM nhặt được có thể bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản quy định tại điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) với hình phạt không giam giữ 3 năm; hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; nếu số tiền rút trộm từ 2 triệu đến dưới 50 triệu đồng.

Tuy nhiên, trong trường hợp này số tiền bạn rút trong thẻ ATM là 400.000 đồng và bạn đã trả lại cho chủ sở hữu số tiền này và thẻ ATM. Vì vậy, hành vi của bạn chưa cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản hoặc tội trộm cắp tài sản.

Author Since: Mar 15, 2019

Bài viết liên quan