Vấn đề giao nộp chứng cứ theo BLTTDS năm 2015.
- by Luật Bạch Đằng Giang
- 7 năm ago
- 0 comments
Câu hỏi/ Được biết, BLTTDS 2004 không quy định thời gian đương sự phải giao nộp chứng cứ, do đó, đương sự có quyền giao nộp chứng cứ vào bất kỳ thời điểm, giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án. Chính vì thế mà trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự, có rất nhiều trường hợp ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự mặc dù có chứng cứ nhưng không giao nộp, thậm chí cố tình che giấu chứng cứ, đến khi vụ án chuyển sang giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm mới giao nộp nhưng Tòa án vẫn phải chấp nhận chứng cứ đó, dẫn đến việc phải hủy, sửa bản án đã ban hành. Vậy điều này đã được khắc phục như thế nào trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thưa luật sư?
Trả lời:
Theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ được quy định như sau:
Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.
Căn cứ quy định này, có thể thấy BLTTDS năm 2015 đã giới hạn thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ là không vượt quá thời hạn xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
Tại khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án dân sự (Điều 26), vụ án hôn nhân gia đình (Điều 28) là 04 tháng; thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án kinh doanh, thương mại (Điều 30), vụ án lao động (Điều 32) là 02 tháng.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

